Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Sự kiện
Thư viện
Mua sắm công
Tổ chức
Gửi ý kiến
Site map
English
  

 ‭(Hidden)‬ Content Editor Web Part

MUTRAP > Tin tức > ÁP THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ XE ĐẠP VIỆT NAM: NÊN “CỞI”, KHÔNG NÊN “THẮT”
ÁP THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ XE ĐẠP VIỆT NAM: NÊN “CỞI”, KHÔNG NÊN “THẮT”

Theo quyết định của Liên minh châu Âu (EU), ngày 15/7/2010, hết thời hạn 5 năm áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng xe đạp của Việt Nam. Nhưng mới đây, Hiệp hội các nhà sản xuất xe đạp châu Âu (EMBA) đã gửi đơn yêu cầu rà soát cuối kỳ lên EC, nhắm tới mục tiêu tiếp tục áp thuế 5 năm nữa với xe đạp của Việt Nam. Trong bối cảnh này, ông Vũ Bá Phú, Phó Cục trưởng Cục Cạnh tranh - Bộ Công Thương, đưa ra hai kịch bản, thứ nhất, nếu EC bác bỏ đơn từ phía EMBA, thuế chống phá giá sẽ được chấm dứt vào ngày 15/7; thứ hai, EC tiếp tục rà soát sẽ kéo dài trong vòng 12 tháng, duy trì mức thuế này đến khi có kết quả rà soát.

Về nguyên tắc, kiện chống bán phá giá là công cụ được sử dụng để đối phó với các hiện tượng chống bán phá giá (cạnh tranh không lành mạnh). Vì vậy, việc xác định “thiệt hại” là bước không thể thiếu trong một vụ kiện chống bán phá giá. Trong 5 năm qua, ngành công nghiệp sản xuất xe đạp châu Âu vẫn ổn định và tăng trưởng, thậm chí còn có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất. Chỉ tính riêng năm 2009, lợi nhuận bán hàng của nước Đức tăng tới 10%.

Theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất xe đạp châu Âu (EMBA) và Hiệp hội Các nhà bán lẻ  xe hai bánh của châu Âu (ETRA), năm 2008, riêng 6 nước châu Âu bao gồm 4 nước nguyên đơn: Italia, Đức, Hà Lan, Pháp đã chiếm 70% sản lượng xe đạp sản xuất toàn cộng đồng. Và cũng chỉ 5 nước châu Âu, trong đó có 4 nước nguyên đơn đại diện cho 2/3 lượng hàng bán ra của toàn bộ EU. Mặt khác, giá bán trung bình xe đạp cũng có sự chênh lệch lớn giữa các nước EU. Năm 2008, giá bán xe đạp của Hà Lan là 688 EUR/chiếc, nhưng tại Anh chỉ 190 EUR/chiếc. Mức giá chênh lệch giữa 2 nước khá lớn. Điều này cho thấy, sự khó khăn của ngành sản xuất xe đạp châu Âu, nếu có, xuất phát từ sự cạnh tranh của doanh nghiệp một số nước “yếu” trong khối, khi xuất khẩu mặt hàng này sang các nước trong cùng cộng đồng.

Số liệu nhập khẩu của  EU cũng cho thấy, thị phần xe đạp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Năm 2007, lượng xe đạp xuất khẩu của Việt Nam vào EU chiếm 0,61%. Năm 2008 là 0,40%. Năm 2009, chỉ là 21.421 xe, chiếm 0,1% trong tổng số 20.407.000 xe được bán ra tại thị trường EU. Một mức không đáng kể theo quy định của WTO và EU về áp thuế chống bán phá giá.

Một chiếc xe đạp gồm gần 70 phụ tùng và gần 300 chi tiết. Với khả năng, công nghệ của ngành xe đạp Việt Nam trước đây 5 năm và cả hiện nay, đều không đủ khả năng sản xuất tất cả các chi tiết, phụ tùng theo đúng các quy định, tiêu chuẩn được EU áp dụng cho hệ thống phanh, tay lái, bàn đạp, xích, trục bánh xe... Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam thường nhập các chi tiết này từ EU. Ở góc độ nào đó, nếu tiếp tục áp thuế, các doanh nghiệp nhập khẩu, doanh nghiệp phụ trợ ngành xe đạp của EU cũng sẽ bị ảnh hưởng một phần.

Trong khi đó, việc áp mức thuế chống bán phá giá từ 15,5% đến 34,5% mặt hàng xe đạp của Việt Nam  đã tác động mạnh đến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, đến các doanh nghiệp phụ trợ và người lao ngành xe đạp Việt Nam. Sau 5 năm chịu thuế, ngành xe đạp của Việt Nam gần như kiệt quệ. Lượng xe đạp xuất khẩu sang thị trường EU giảm mạnh, từ 1.067.772 chiếc năm 2005, xuống 21.421 chiếc năm 2009. Giá trị xuất khẩu cũng giảm nghiêm trọng, đặc biệt, năm 2007, giảm tới 95,3% so với năm 2006.

Năm 2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp phép cho hơn 30 nhà đầu tư vào kinh doanh, sản xuất xe đạp tại Việt Nam, với tổng vốn trên 100 triệu USD. Nhưng sau khi bị áp thuế, một số doanh nghiệp chuyển đổi ngành nghề, một số khác chuyển sang sản xuất tại Campuchia hoặc sản xuất cầm chừng cho tiêu dùng nội địa. Hiện, công suất toàn ngành chưa đầy 200.000 chiếc/năm, không bằng 10% công suất năm 2005.

Việc EU áp thuế xe đạp xuất khẩu của Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn tác động sâu sắc đến phân bổ nguồn lực xã hội. Số lao động toàn ngành giảm nhanh, từ 210.000 người trước 2005, xuống 5.000 người vào đầu năm 2010. Trong điều kiện giá nguyên liệu đầu vào liên tục tăng, dù đã có nhiều kiến nghị, song không doanh nghiệp sản xuất xe đạp nào được hỗ trợ vốn. Nhà nước Việt Nam chỉ hỗ trợ về mặt pháp lý, song lại quy định chặt chẽ về tiền lương cho người lao động. Doanh nghiệp phải tự chủ trong kinh doanh và sản xuất, tự xác định giá bán hàng... Tuy nhiên, chi phí lao động thấp, lại được EU lấy làm một trong những lý do để áp thuế chống bán phá giá với xe đạp xuất khẩu của Việt Nam. EU đã bỏ qua thực tế, chi phí lao động chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá thành sản phẩm.

Qua 5 năm áp thuế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xe đạp Việt Nam đã quá yếu. Vì vậy, ngay cả khi EU bỏ áp thuế vào 15/7, cũng phải mất rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức, mới có thể tiếp tục xuất khẩu. Còn để lấy lại được “phong độ” của 5-7 năm trước chắc chắn phải lâu hơn nữa.

(Nguồn: Báo Công Thương)

 Tin mới

 Tin đã đưa

Tầng 9, tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam.
ĐT: 04 62702158 | Fax: 04 62702138 | Email: mutrap@mutrap.org.vn
Website đang hoạt động thử nghiệm, chờ giấy phép hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông.