Skip to main content

Go Search
Trang chủ
Sự kiện
Thư viện
Mua sắm công
Tổ chức
Gửi ý kiến
Site map
English
  

 ‭(Hidden)‬ Content Editor Web Part

MUTRAP > Tin tức > CẦN PHẢI CẠNH TRANH
CẦN PHẢI CẠNH TRANH

“Các nhà xuất khẩu hàng nông sản cần phải cải tiến mạnh mẽ trên nhiều phương diện để có thể tiếp cận tốt hơn nữa thị trường EU” Tiến sỹ Matthias Duehn, Giám đốc Văn phòng EuroCham Hà Nội nhận định.

Ông nhìn nhận thế nào về cơ hội xuất khẩu của hàng nông nghiệp Việt Nam vào Châu Âu, đặc biệt sau 3 năm là thành viên của WTO?

Không nghi ngờ gì về việc gia nhập WTO ba năm qua là một bước tiến lớn trong hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam. Là một thành viên của tổ chức này, Việt Nam giờ đã có nhiều cơ hội xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên và thị trường quốc tế với mức thuế suất ưu đãi. Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi này, Việt Nam cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng cao từ các thành viên khác và tác động của thị trường hàng hóa quốc tế. Rất nhiều mặt hàng nông sản được mua bán trên các thị trường quốc tế như gạo, cà phê, cao su, đậu nành và vải bông. Tác động từ thị trường quốc tế, cùng với chính sách định giá làm cho những quy định của WTO càng trở nên trầm trọng hơn, vì theo luật WTO, trợ cấp của Chính phủ bao gồm trợ cấp giá phải được bãi bỏ và thuế nhập khẩu phải được cắt giảm, điều này thực sự là thách thức với các công ty Việt Nam trên cả thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài.

Tuy nhiên, EuroCham có nhìn nhận rất tích cực về triển vọng của các nhà xuất khẩu Việt Nam trong năm 2010. Theo Bộ Công Thương (BCT), xuất khẩu của Việt Nam tăng 28.1% trong tháng 1(so với tháng 1 năm 2009) nhờ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý nông sản không phải là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng cao, mà là các ngành hàng đòi hỏi kĩ thuật cao như máy móc, thiết bị, dây và cáp điện, với tỉ lệ tăng 100%. Điều này củng cố thêm quan điểm của EuroCham nên xúc tiến phát triển xuất khẩu ở các ngành hàng có giá trị gia tăng cao hơn là xuất khẩu nguyên liệu thô. Đối với sản phẩm nông nghiệp, gạo có mức tăng trưởng cao nhất (hơn 50% so với năm ngoái). BCT gần đây đã đặt mục tiêu xuất khẩu năm nay vào khoảng 60 tỷ đô la, đạt tỷ lệ tăng trưởng 7% so với năm ngoái. Cùng lúc đó, Bộ cũng hỗ trợ nhằm tăng khả năng xuất khẩu hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ và các linh kiện điện tử với hi vọng rằng các sản phẩm này sẽ có giá trị xuất khẩu và tỷ lệ tăng trưởng cao. Mặc dù xuất khẩu nông sản vẫn là trọng tâm, EuroCham ủng hộ định hướng của BCT về tập trung hỗ trợ phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao.

Thưa ông, đâu là điểm mạnh và điểm yếu của các mặt hàng nông sản Việt Nam?

Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, chè, cao su, bông, hải sản, hạt tiêu, đậu nành, hạt điều, mía đường, lạc và gia cầm. Vì vậy, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc xuất khẩu các sản phẩm này ra thị trường quốc tế, với điều kiện các sản phẩm này phải đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Đối với các nhà sản xuất nông sản Việt Nam, đây thực sự là một thách thức. Các công ty này thường có quy mô nhỏ, họ thiếu chiến lược chung trong quy trình sản xuất và chỉ tiêu chất lượng sản phẩm. Đó là do là khả năng tài chính yếu kém khiến họ không thể cải thiện được công nghệ và năng lực sản xuất.

Nói chung, Việt Nam vẫn thiếu “hiệu quả kinh tế nhờ quy mô”. Không giống các quốc gia phát triển khác nơi mà nông sản được sản xuất với quy mô lớn, với kĩ thuật sản xuất và thu hoạch tiến bộ, sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam thường không đáp ứng được các tiêu chuẩn về sản xuất, độ an toàn và chất lượng sản phẩm. Điều này không chỉ đúng với người trồng trọt, chăn nuôi, mà còn là thực trạng của các công ty chế biến nông sản. Khó khăn của các công ty chế biến này là thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào có chất lượng tốt, nên họ chế biến ra các sản phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế.

Những bất lợi này có đồng thời là thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam cần vượt qua không?

Đúng vậy! Đây là vấn đề chung không chỉ cho các sản phẩm nông nghiệp mà cho cả nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nâng cấp công nghệ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Bằng việc nâng cao các giá trị gia tăng, và nâng cao thương hiệu, những sản phẩm này sẽ trở nên hấp dẫn hơn trên thị trường nội địa và quốc tế. Hàn Quốc và Đài Loan là hai ví dụ điển hình cho việc thăng hạng trên nấc thang giá trị khi họ chuyển dịch từ trồng lúa nước sang sản xuất ô tô, màn hình LED và điện thoại di động. Trong khi đó, chúng tôi nhận thấy trên quy mô toàn cầu, Việt Nam vẫn chỉ là nước đang phát triển ở giai đoạn đầu và xuất khẩu chủ yếu nguyên liệu thô, vì vậy, nên coi việc phát triển các sản phẩm cao cấp là một mục tiêu dài hạn.

EuroCham tin rằng một trong các vấn đề quan trọng nhất nhằm phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn là chuyển dịch từ việc xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, cụ thể là các ngành công nghệ cao. Có ba vấn đề chính giúp cho sự chuyển dịch này thành công, đồng thời thu hút và giữ chân các nhà đầu tư quốc tế và EU. Thứ nhất là cơ sở hạ tầng, không chỉ bao gồm đường xá, cảng biển, và sân bay, mà còn bao gồm nguồn cung cấp năng lượng bền vững. Thứ hai là giáo dục, dù Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và năng động, nhưng phương thức sản xuất và nhu cầu về lao động ngày càng trở nên khắt khe, những ngành sản xuất giản đơn trước kia, giờ đây đã yêu cầu nhiều kĩ năng phức tạp hơn. Theo đó, các cơ sở giáo dục phải nâng cao chất lượng giáo dục và phối hợp với các doanh nghiệp đòi hỏi những kĩ năng đó. Thứ ba là các chính sách ưu đãi của Nhà nước: chính quyền địa phương phải cung cấp các quy định minh bạch và có thể lường trước để các nhà đầu tư tin tưởng. Các khuyến khích đầu tư, đặc biệt là ưu đãi thuế phải rõ ràng và được áp dụng ở cả tầm quốc gia và địa phương.

Các rào cản kĩ thuật từ lâu đã làm sản phẩm Việt Nam khó tiếp cận thị trường châu Âu. Ông có lời khuyên nào đối với các doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu vào thị trường châu Âu?

Doanh nghiệp Việt Nam với định hướng xuất khẩu nên nâng cao kiến thức về các yêu cầu của thị trường nước ngoài, như tiêu chuẩn công nghệ, dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời, nâng cao hiểu biết về chính sách thương mại, các công cụ tài chính, và đặc biệt là xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Doanh nghiệp Việt Nam phải hiểu rõ thị trường họ định xuất hàng sang và nhu cầu của khách hàng tại những thị trường đó, cũng như linh hoạt trong việc lên kế hoạch và phát triển các phương án thay thế.

Các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng nên tập trung đổi mới sản phẩm, tạo ra các sản phẩm cao cấp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Trước đây, họ thường cạnh tranh dựa trên tiêu chí giá cả, và không để ý đến chất lượng sản phẩm, chính vì vậy, họ cảm thấy khó khăn khi tiếp cận thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản, nơi những rào cản kĩ thuật được áp dụng hết sức nghiêm ngặt. Họ càng hiểu biết luật thương mại nước ngoài nhiều bao nhiêu thì họ càng cạnh tranh tốt hơn bấy nhiêu. Các doanh nghiệp Việt Nam phải suy nghĩ và hành động một cách toàn cầu, nhất là trong các hoạt động tài trợ xuất khẩu.

Nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam vẫn chưa để ý đến các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi khi muốn tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro chênh lệch tỉ giá. Hơn nữa, một số doanh nghiệp còn phân vân khi sử dụng đồng Euro, điều này làm giảm tính hiệu quả trong các giao dịch xuất khẩu với các nước ở khu vực này. Cuối cùng, các doanh nghiệp Việt Nam cần làm tốt hơn nữa trong quảng bá thương hiệu sản phẩm, đơn cử như trường hợp người dân châu Âu thường không biết rằng Việt Nam là nước xuất khẩu gạo và cà phê lớn nhất thế giới.

EuroCham Việt Nam có kế hoạch giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường năng lực và tăng kim ngạch xuất khẩu sang EU không?

Mặc dù nhiệm vụ chính của chúng tôi là giúp đỡ các doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động ở Việt Nam, nhưng chúng tôi cũng cố hết sức thúc đẩy đầu tư vào cả Việt Nam và châu Âu. Cụ thể, EuroCham đang tham gia tích cực vào các chương trình nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam, từ việc xây dựng hiểu biết về luật thương mại châu Âu đến các chính sách về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Chúng tôi là người điều hành chương trình “Xây dựng năng lực cho các Hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam” – một chương trình của Ủy ban châu Âu do MUTRAP tài trợ, nhằm giúp đỡ các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam thể hiện quan điểm rõ ràng hơn khi đối thoại với các công ty nước ngoài và Chính phủ Việt Nam. Trong dự án này, chúng tôi làm việc với các Hiệp hội doanh nghiệp như LEFASO và VITAS.

Chúng tôi cũng làm việc với các tổ chức quốc tế như UNIDO trong một chương trình nâng cao hiểu biết về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhằm giúp họ tiến sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Cuối cùng, không thể phủ nhận rằng các công ty thành viên của chúng tôi như METRO, Siemens, Dutch Lady và Unilever đã tuyển dụng hàng nghìn lao động Việt Nam, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng cho các nhà cung cấp, từ đó gián tiếp giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao tiêu chuẩn chất lượng của mình.

(Theo: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

 Tin mới

 Tin đã đưa

Tầng 9, tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam.
ĐT: 04 62702158 | Fax: 04 62702138 | Email: mutrap@mutrap.org.vn
Website đang hoạt động thử nghiệm, chờ giấy phép hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông.